Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Phan Bội Châu Và Bia Mộ Hai Con Chó

Ngày 30/ 6/ 1925, Phan Bội Châu trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu; vừa đến ga Bắc Thượng Hải thì bị mật thám Pháp bắt cóc rồi đưa về Hà Nội. Lúc đầu tòa xử chung thân khổ sai nhưng sau vì sợ phản ứng của quần chúng cả nước, phải đổi lại là quản thúc tại gia.

Từ năm 1926 cho đến ngày mất (1940), cụ Phan sống trong căn nhà tranh ở Bến Ngự, Huế.
Ngao ngán nhẽ một đời xả thân vì nước mà ngờ đâu lại có kẻ bội phản, báo thời khắc, lộ trình đi lại của cụ cho mật thám Pháp biết mà bắt cóc tại tô giới của Anh rồi đem về nước xử án. Trong vòng lao lí cụ vẫn không ngừng chí đấu tranh, vẫn viết sách, viết báo để cảnh tỉnh hồn dân tộc.

Chuyện “Lịch sử con Vá” do cụ viết đăng trên tuần báo Trung Kỳ số 14 ngày 15/4/1936 kể chuyện chó để ngụ ngôn cho mọi người thấy chó còn hơn những kẻ mà cụ gọi là “mặt người lòng thú”, những “hạng muông người”. Chuyện con Vá cụ kể chủ yếu nêu cao đức trung nghĩa cùng những thành tích dũng cảm của nó.

Chuyện bắt đầu kể việc trồng bia mộ chó :

“Năm Giáp tuất âm lịch (1934), ngày 21 tháng 5, con chó nhà tôi nuôi tên là Vá nhân mắc bệnh đầu ung từ biệt tôi về với nước chó.

Tôi thương nó. Tôi đắp mồ táng cho nó. Mồ cao rộng một thước tây, ở gần phía dưới chân sinh huyệt của tôi. Ở trên mồ tôi trồng một cái bia cao ước một thước ta. Lòng bia khắc năm chữ rằng: “Nghĩa dũng cẩu chi trủng” và có chua chữ “con Vá” dưới chữ cẩu…

Kể chuyện chó, cụ lại nói đến người :

Tôi làm xong, có khách tới chơi. Khách rầy tôi rằng: Một con chó chết mà ông làm gì lắm việc thế? Đã đắp mồ lại dựng bia khắc chữ, chẳng phải là quá đa sự hay sao? Hay là ông xem chó cũng như người? Nếu quả thế, tôi phải tuyệt giao với ông mới được.

Tôi nói : Thưa bác, xin bác hãy im cho tôi kể. Trên trời dưới đất, ở giữa khoảng trời đất là vạn vật. Theo về bề ngoài, người với chó vẫn khác nhau xa. Nhưng theo về nguyên tắc sinh lý thời người với chó có gì phân biệt; mà sở dĩ phân biệt là chính ở nơi tinh thần. Nếu tinh thần mà mất hết tri giác thì người chẳng phải chó là gì ?...

Cụ Phan vừa kể lại vừa lí luận - đặt ngang chó với người thì kẻ “tinh thần mất hết tri giác” cũng là chó thôi nhưng chắc chắn chưa thể sánh được cùng con Vá, bởi Vá của cụ là tấm gương “dũng” với bao nhiêu những hành động can đảm : một mình chiến đấu với bầy dê đực hơn mười con mà chẳng hề sợ hãi; một mình đánh nhau với cả bầy chó Tây béo tốt… Chiến đấu dũng mãnh với cường địch đến nỗi bị thương mù cả hai mắt…

Kể về “dũng” xong lại kể tiếp về “nghĩa” : 

Còn như về phần “nghĩa” của Vá thì càng khiến cho tôi phải đặc biệt thương nhớ nó quá. Nó ở với tôi suốt tám năm hơn, trong miệng nó cắn người lạ có hơn trăm người, mà nó ghét nhất là những người thình lình vào buồng tôi nằm. Đêm nào nó cũng gác ở trong buồng tôi chẳng khác gì một tên vệ binh của Tào Tháo. Ban đêm đã thế mà ban ngày cũng vậy. Có một ngày kia, giữa buổi trưa tôi không nằm trong buồng; hai tên trò bé, đứa mười tuổi, đứa chín tuổi, lẻn vào buồng lên giường tôi nằm thẳng hai chân xuống. Bỗng Vá thấy được liền lấy miệng kéo chân bọn ấy ra (…). Một ngày kia nó đưa ông bạn tôi là cố Cháu ra ga, giữa đường bị người ta thiết mưu bắt nó, giam nó ở nhà họ từ bảy giờ mai đến tám giờ đêm mới mới thấy Vá chạy về thở ào ào, nằm thim thíp như hình đau mỏi lắm. Tôi lại thăm nó, thấy bên cổ nó còn có sợi dây buộc tròn, chắc là bọn bất nhơn kia đã trói nó riết lắm.

Vá ơi ? mày có nghĩa thật !

Người ta bắt mày là muốn nuôi mày. Chắc là mồi nhử mày biết bao nhiêu thứ ngon. Sao mày bín rín gì nhà ta chỉ có ba hột cơm hút rơi, ba miếng canh rau lạnh, và cứ ở theo ta lấy được, mạo hiểm quên chết, cho trọn chủ tớ với ta, ta thật không thể nào quên được Vá.

Lại có một phen nữa tôi đi lên vườn trên Nam Giao, nó đi theo tôi, tôi đuổi nó về. Đột nhiên mất nó đến bốn ngày. Ai dè tảng sáng ngày thứ năm sắc trời còn lờ mờ, người trong nhà ngủ chưa dậy, vỗ đầu nó thấy nó tiều tụy lạ thường chắc là ba bốn ngày nó không ăn một hột cơm nào. Người xưa có câu “Chó Nghiêu không ăn cơm Chích” e cũng có lẽ. Tôi vì thế mà càng đặc biệt thương yêu nó. Chẳng những thế, từ năm kia tôi nuôi một mụ ở; mụ này tuổi ngoài bốn mươi mà tính tham lam cũng phi thường. Có một đêm, mụ rình buổi tôi ngủ say, biết được bao giấy ở trong mình tôi, rình lẻn vào buồng, thò tay vào trong áo tôi vừa lần được bao giấy ra thì Vá ở dưới giường làm một tiếng “hộc” rất to, chụp vào chân mụ, mụ phải vứt bao giấy chạy mau ; tôi thột dậy thì bao giấy tôi đã chạy xuống chân giường.

(…) Trong lịch sử Vá có nhiều chuyện như thế kể không hết. Duy có một việc này thì trong chủng tộc chó e con Vá là “độc nhất vô nhị” là nó hễ thấy đồ ăn ở ngoài đường hay chỗ nào mà không phải trong tay chủ nhà nó cho ăn thời nó nhất định không chịu ăn. Chó nhà tôi nuôi đồng thời có ba con, hai con chúng bã chết, duy con Vá chẳng bao giờ mắc bã. Mấy ông trộm ở xung quanh cứ hết sức bã nó, bã mãi bã hoài mà không bã được nó, vậy nên Vá mới sống được đến ngày nay…

Kể về “dũng” và “nghĩa” của Vá xong cụ Phan kết thúc :

“Giá như người làm tôi dân một nước, vừa dũng, vừa nghĩa, vừa khôn, thảy hết sức giữ nước, cũng in như con Vá giữ nhà thời từ xưa đến nay làm gì có vong quốc sử nữa ư ?...

Vậy là kể chuyện chó để nói đến điều xa xôi, to tát hơn. Kể chó là để nói tới người mà người đây là người dân Việt lúc này đang chịu đè nén dưới cường quyền, muốn thoát thì không chỉ có nghĩa, có dũng mà cần phải có cả trí nữa.

Câu chuyện trên năm 1992 được in lại trong Phan Bội Châu toàn tập; tập 4 ; NXB Thuận Hóa do GS. Chương Thâu sưu tầm và biên soạn.. Cả bộ sách đã tập trung được gần hết tác phẩm của cụ Phan từ rất nhiều nguồn : từ những đề từ, những câu đối quốc ngữ, chữ Nôm, chữ Hán, những bài thơ ngâm vịnh, các bài văn nghị luận cho đến cả những bài phú, biểu, tán, văn bia, các truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí, tự truyện, các nghiên cứu về Chu Dịch… trên báo chí hoặc rải rác khắp trong quần chúng và các nhà Nho còn lưu giữ được… Tất cả được gom lại trong cả thảy 10 tập, hơn 4.000 trang. Thật là một công trình dày công phu, nhiều tâm huyết.

NHỮNG TẤM BIA MỘ CHÓ CỦA CỤ PHAN
ĐÃ LƯU DANH VÀO SỬ SÁCH

Đến Huế, về thăm mộ cụ Phan : phía dưới chân mộ nhà chí sĩ là 6 tấm bia mộ của hai con chó “nghĩa- dũng” và “nhân-trí” của cụ :

1- NGHĨA DŨNG CẨU (con Vá) :











Phiên âm: Nghĩa Dũng cẩu (con Vá ) chi trủng.

“Duy dũng dã, kiến cường tắc đấu ; duy nghĩa dã, tận trung ư chủ. Ngôn giả đa, hành hãn cấu. Nhân thả nhiên, huống ư cẩu. Ư duy nhữ mang, nãi kiêm nhi hữu. Khởi nhược thuỳ tai , diện nhân tâm thú. Dụng thị thê nhiên, thụ bi nhữ mộ.”

GS. Chương Thâu tác giả “Phan Bội Châu toàn tập” - tập 6, trang 405 - NXB Thuận Hóa 1992, đã đọc nhầm mất 02 chữ (có gạch chân) :

a/…Ngôn giả đa, hành hãn hữu

(đúng ra là : …Ngôn giả đa hành hãn cấu. Chữ 覯 (cấu) ở cuối câu nghĩa là gặp được. Nghĩa cả câu này: Kẻ nói được thì nhiều nhưng kẻ làm được thì ít gặp).

b/…Ư duy nhữ Vá nãi kiêm nhi hữu…

( đúng ra là :…Ư duy nhữ mang nãi kiêm nhi hữu. Nghĩa là : Chỉ có mày là kiêm được cả (vừa NGHĨA lại vừa DŨNG).

Giữa câu không phải là chữ Vá mà là chữ mang ( 庬 ) nghĩa là lẫn lộn(Khác hẳn với “Vá” thuộc Nôm phải viết là 播 hoặc . Hơn nữa nếu đặt chữ “ Vá ” vào đây làm chủ ngữ thì câu trở nên sai về cấu trúc ngữ pháp). 

Bia quốc ngữ (cụ Phan dịch nghĩa) :

“Vì có dũng, nên liều chết phấn đấu; vì có nghĩa, nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó; người còn vậy, huống gì chó !

Ôi ! Con Vá nầy, đủ hai đức đó, há như ai kia, mặt người lòng thú, nghĩ thế mà đau, dựng bia mộ nó.”

Theo lời kể của “Lịch sử con Vá” trên báo thì thoạt đầu cụ Phan chỉ cho trồng bia một tấm, về sau chắc là cụ đã viết và cho khắc thêm hai tấm nữa, một bằng chữ Hán, một khắc bằng quốc ngữ kể công trạng của Vá. 

Sống trơ trọi không vợ con, không họ hàng thân thích. Mất con Vá, cụ Phan đau xót lắm. Vá chết năm 1934 ; ba năm sau lại chết thêm con Ky; cụ Phan cũng lập bia mộ cho nó. Mặc dù Ky không được cụ viết lịch sử lên báo như Vá nhưng xem mấy dòng ghi năm tháng cuối bia thì ta biết được Ky chết vào năm Đinh sửu (1937).

2- NHÂN TRÍ CẨU (con Ky) :










Phiên âm: Nhân Trí cẩu ( Ky ) chi trủng.

“Cận nhân giả, thường bần vu trí. Cận trí giả, thường bạc ư nhân. Nhân trí lưỡng bị, nan hĩ tai ! Hà vật súc nhân, nãi kiêm nhi hữu.

Đồng sự nhất chủ, tắc cốt nhục thị chi, vô miêu cẩu chi giới, nhân dã ! Kiến phi kì chủ, tắc cừu địch thị chi, hoá lợi bất năng nhị , trí dã.

Nhân thả trí, nhữ vật nhi nhiên. Thiên hồ ! Thiên hồ ! Nhữ nãi bất thọ ! Viên lặc sở cảm ư nhữ mộ. Bỉ nhân nhi thú giả, thị nhữ đương hà như.

Nam lịch Đinh Sửu nguyệt nhật. Chủ nhân Sào Nam chí.”

Sách “Phan Bội Châu toàn tập” (tập 6, trang 406 ) đã phiên âm bia này nhầm thêm 02 chữ nữa:

a/ …cận trí giả thường bần ư nhân

(đúng ra là : …cận trí giả thường bạc ư nhân . Nghĩa là : Kẻ gần với trí thì thường ít nhân).

b/…Nhữ nãi bất thọ. Thụ lặc sở cảm ư nhữ mộ…

(đúng ra là : Nhữ nãi bất thọ ; viên lặc sở cảm ư nhữ mộ… Nghĩa là :Mày chẳng được thọ; ta bèn viết lời thương cảm trên mộ mày.)

Bia quốc ngữ ( cụ Phan dịch nghĩa) :

Người hơi có đức nhân thường kém về phần trí ; người hơi có đức trí thường kém về phần nhân; vừa trí vừa nhân thiệt là hiếm thấy; ai ngờ con KY nầy lại đủ hai đức ấy.

Chung nhau thờ một chủ thời xem là anh em, chẳng bao giờ như mèo với chó thiệt là nhân đó.

Thấy không phải chủ thời xem bằng cừu thù, chẳng bao giờ vì miếng ngon dẫn dụ thiệt là trí đó.

Trí vừa nhân, nhân vừa trí, trong giống súc mà người, e đến mầy mới thấy.

Mầy sao vội chết !

Hỡi trời ! Hỡi trời !

Lòng ta đau đớn, phải tạc mấy lời.

Đau đớn quá ! Đau đớn quá !

Kia những hàng muông người.

Bia công trạng của Ky viết dài hơn bia của Vá và cũng là những lời ca ngợi chó để so với loại mặt người dạ thú : “…Nhân thả trí, nhữ vật nhi nhiên. Thiên hồ ! Thiên hồ ! Nhữ nãi bất thọ ! Viên lặc sở cảm ư nhữ mộ. Bỉ nhân nhi thú giả, thị nhữ đương hà như.”

( Nhân mà trí, loài vật như mày lại được như thế! Trời ơi! Trời ơi!. Mày chẳng được thọ; ta bèn viết lời thương cảm trên mộ mày. Ai kia là người mà lại là thú đấy, chẳng thể sánh với mày được.)

Xem thế, tâm trạng của cụ Phan trong những năm sống hẩm hút ở căn nhà tranh bến Ngự ấy là hết sức cay đắng trước thói đen bạc của đời. Cụ xả thân cho xã hội mà đáp lại là những kẻ mặt người lòng thú luôn rình rập để mưu hại : kẻ đã bán cụ cho Pháp, kẻ lại theo lệnh Tây luôn ngó nghiêng do thám quanh nhà.

Xem mấy bia mộ chó của cụ Phan ta trộm nghĩ rằng phải chăng trên cõi đời này có nhiều kẻ chưa thể sánh được với Ki và Vá - chưa sánh được cả về tư cách lẫn cả cuộc đời, hành trạng ./.

Sưu tầm (Kiến Thức Ngày Nay Số 724 Ngày 20. 9. 2010 ).

Ngày Mồng Năm Tháng Năm ở miền Trung


Rượu nếp, bánh tro ngày mồng 5 tháng năm Âm lịch
Rượu nếp, bánh tro ngày mồng 5 tháng năm Âm lịch
Courtesy Văn cúng cổ truyền
Khác quan niệm của người Trung Quốc, với người Việt Nam, tết Đoan Ngọ là một cái Tết diệt những sâu bọ có hại và đón ánh sáng mạnh nhất trong năm để tích tụ dương khí mà đối phó với mùa Đông phía trước. Tết Đoan Ngọ trùng với ngày Hạ Chí, đây cũng là dịp người ta rủ nhau vào rừng hoặc ra đồng nội để hái lá thuốc, phơi và cất dành.
Tuy nhiên, vẫn còn số đông người dân chưa hiểu về Tết Đoan Ngọ và nhầm lẫn nó với ngày Tết Đoan Ngọ của người Trung Quốc, cho rằng đây là dịp cúng kính, tưởng nhớ đến nhà thơ Khuất Nguyên đã trầm mình xuống dòng Mịch La vì bị kẻ gian thần dưới triều Sở Hoài Vương hãm hại. Vậy thực hư câu chuyện như thế nào?
Ai cúng? Ai không?
Một người chuyên nghiên cứu về văn hóa dân gian ở miền Trung Việt Nam, yêu cầu giấu tên, chia sẻ: “Ngày mồng Năm có người làm, có người không vậy đó, có vùng họ đâu có Tết Đoan Ngọ đâu. Ở vùng này họ bình thường lắm, họ cúng trái cây, bánh tro.. khồng đồng đều. Có thể ảnh hưởng văn hóa Chăm, vì giao thoa hài hòa giữa Chăm – Việt. Có nhà họ cúng kính, con cái về, có người thì cũng vô tư.”
Theo ông, Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam vốn có từ lâu đời, đương nhiên là ban đầu ảnh hưởng Trung Hoa bởi âm lịch Việt Nam vẫn đang sử dụng là lịch Tàu. Tuy nhiên, ngày Mồng Năm Tháng Năm ở Việt Nam đã biến thể rất nhiều theo phong tục, tập quán của người Việt, ngay cả cái tên gọi là ngày Mồng Năm Tháng Năm chứ không phài gọi bằng Tết Đoan Ngọ cũng đủ cho thấy sự biến chuyển từ hình thức đến nội dung của nó.
Tết Đoan Ngọ ở Việt Nam vốn có từ lâu đời, đương nhiên là ban đầu ảnh hưởng Trung Hoa bởi âm lịch VN vẫn đang sử dụng là lịch Tàu. Tuy nhiên, ngày Mồng Năm Tháng Năm ở VN đã biến thể rất nhiều theo phong tục, tập quán của người Việt, ngay cả cái tên gọi là ngày Mồng Năm Tháng Năm chứ không phài gọi bằng Tết Đoan Ngọ
Đặc biệt, kể từ khi những người Minh Hương ‘phản Thanh phục Minh’ sang cư trú tại Việt Nam, ngày Tết Đoan Ngọ lại một lần nữa biến thể theo hướng đa dạng và nhiều màu sắc hơn. Bởi, với người Việt, ban đầu chỉ biết ngày Mồng Năm Tháng Năm là ngày diệt sâu bọ, ngày hái lá thuốc chữa bệnh chứ ít ai, thậm chí là không có người nào biết đến nhà thơ Khuất Nguyên, trừ những vị thâm Nho.
Hái lá cây ngày Mồng Năm từ núi cao về chợ bán. RFA
Hái lá cây ngày Mồng Năm từ núi cao về chợ bán. RFA
Mãi đến khi người Minh Hương đón tết Đoan Ngọ của họ bằng những chiếc bánh quấn chỉ xanh chỉ đỏ và những vốc gạo vãi xuống sông, dân gian người Việt mới biết thêm rằng có một nhà thơ yêu nước tên Khuất Nguyên, sống ở nước Sở, luôn canh cánh trong lòng nỗi lo trước sự bành trướng của nước Tần, đã nhiều lần khuyên Sở Hoài Vương hãy lo liên minh với các nước khác để phòng khi bị nước Tần xâm lăng.
Thay vì nghe theo lời Khuất Nguyên, Sở Hoài Vương nghe theo gian thần, những kẻ làm nội ứng cho nước Tần đã khuyên Sở Hoài Vương liên kết với nước Tần để củng cố sức mạnh. Hậu quả của việc này là chẳng bao lâu sau khi kết nghĩa làm chư hầu với Tần, nước Tần bất ngờ xua quân sang đánh nước Sở và lấy nước Sở trong chốc lát. Quá đau khổ trước cảnh nước mất nhà tan, Khuất Nguyên đã trầm mình xuống dòng Mịch La. Người đời sau cảm kích tấm lòng trung quân ái quốc của ông, đã lấy ngày mất của ông làm ngày giỗ chung của dân tộc Trung Hoa, tức ngày Mồng Năm Tháng Năm.
Sau khi kết nghĩa làm chư hầu với Tần, nước Tần bất ngờ xua quân sang đánh nước Sở và lấy nước Sở trong chốc lát. Quá đau khổ trước cảnh nước mất nhà tan, Khuất Nguyên đã trầm mình xuống dòng Mịch La. Người đời sau cảm kích tấm lòng trung quân ái quốc của ông, đã lấy ngày mất của ông làm ngày giỗ chung của dân tộc Trung Hoa, tức ngày Mồng Năm Tháng Năm
Đương nhiên câu chuyện mang tính truyền thuyết nhiều hơn là lịch sử. Nhưng dẫu sao, tấm lòng của Khuất Nguyên cũng có một mối tương giao đối với người Việt Nam hiện tại, những suy nghĩ của ông về quốc gia, dân tộc vẫn không hề cũ đối với những nhà yêu nước ở Việt Nam hiện nay và câu chuyện của ông lại có nét na ná câu chuyện của giới sĩ phu yêu nước trong lúc này.
Và hiện tại, người Việt đón Tết Đoan Ngọ thường mang ý nghĩa kép, vừa là ngày diệt sâu bọ có hại, đón khí dương của năm và tưởng nhớ ông bà, tổ tiên lại vừa là ngày kỉ niệm một nhà yêu nước ở một xứ xa xôi đã trầm mình để giữ khí tiết của một kẻ sĩ yêu dân tộc, yêu quốc gia. Nếu chỉ xét về mặt ái quốc, đương nhiên Khuất Nguyên là người xứng đáng để các nhà yêu nước tại Việt Nam đồng cảm và đốt một nén nhang cầu nguyện ông được mỉm cười nơi chín suối.
Bán vịt ngày Mồng Bốn Tháng Năm
Bán vịt ngày Mồng Bốn Tháng Năm
Tuy nhiên, vẫn có nhiều người không hiểu gì về ngày Mồng Năm Tháng Năm nên xem đó là ngày Tết của Trung Quốc và mặc nhiên cúng kính vì nghĩ rằng mọi thứ văn hóa của Việt Nam đều do ảnh hưởng và thừa kế của Trung Quốc.
Nhầm lẫn tập thể
Một người tên Trung, chia sẻ quan điểm: “Kinh tế hay kinh tế chính trị cũng không ảnh hưởng gì đến ngày Mồng Năm tháng Năm, bình thường của cuộc sống mà. Trước tiên thì theo tục lệ của ông bà mình, ngày này cũng là ngày kỷ niệm một vị thầy thuốc của Trung Quốc bên thuốc Nam. Ngày này cũng là ngày nắng ráo, có sinh khí của trời đất tụ trong vị thuốc để đi hái thuốc. Nhưng giờ nhân sinh cũng ít đi hái thuốc ngày Mồng Năm rồi, mấy năm sau này cũng bị mai mọt, phần lớn là do văn hóa phương Tây tràn ngập nhiều.”
Theo ông Trung, Tết Đoan Ngọ là Tết hái lá thuốc do một người Trung Hoa xa xưa đã sang nước Nam để hái lá thuốc chữa bệnh cho dân Việt và bị chết trên núi, nhân dân tưởng nhớ công đức cứu nhân độ thế của ông nên đã dành ngày này để cúng kính ông. Và không riêng gì ông Trung nghĩ như vậy, phần đông các nông dân đều quan niệm về ngày Mồng Năm Tháng Năm giống như ông Trung. Và khi hỏi về gốc gác câu chuyện, họ chỉ nói là nghe ông bà xưa nói như thế.
Một người Huế đang sống tại Quảng Ngãi, chuyên nghiên cứu về Trung Thiên Dịch của cụ Trần Cao Vân và Thái Ất Thần Kinh của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm chia sẻ với chúng tôi rằng theo chỗ ông hiểu thì ngày Mồng Năm Tháng Năm là Tết của người Việt, một cái tết mang tính thiên văn, địa lý. Bởi vì ngày Mồng Năm Tháng Năm cũng là ngày Hạ Chí, những dân tộc thiên về âm dương ngũ hành như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam đều xem đây là ngày Tiết, ngày của thời tiết và khí trời hơn là Tết, nếu đọc đúng thì phải đọc là Tiết Đoan Ngọ.
Sai lầm lớn nhất của nhiều người nằm ở chỗ hoặc là bài trừ hoặc là sùng tín ngày Mồng Năm Tháng Năm. Vì bài trừ thì dẫn đến cực đoan và phủ nhận sự phong phú của Việt Tộc. Còn sùng bái thì dễ dẫn đến nghi thức tâm linh và xem đây là ngày tưởng nhớ, tưởng niệm một ông Tàu nào đó, cả hai hành vi này khác xa với việc vui chơi ngày mùa và diệt sâu bọ, đón chào luồng khí dương của năm để làm ăn
Ông nói thêm: “Gọi là nhân dịp Tiết Đoan Ngọ thì mình cúng thôi, có gì cúng đó, không thì thôi! Cúng tổ tiên, ông bà mình, đất đai, nương vườn nhà mình. Làm một mâm cúng trong nhà, van vái như nhân dịp Tiết Đoan Ngọ, ngày mồng năm tháng năm, con tên gì đó, vợ con tên gì đó.. có làm mâm cơm để cúng đất đai, nương vườn, nhà cửa, cầu mong Ơn Trên phù hộ, giúp đỡ làm ăn bình thường, sức khỏe, bình an, bình an với bình thường là được rồi, tấn tài tấn lộc thì càng tốt!”
Và theo ông, sai lầm lớn nhất của nhiều người nằm ở chỗ hoặc là bài trừ hoặc là sùng tín ngày Mồng Năm Tháng Năm. Vì bài trừ thì dẫn đến cực đoan và phủ nhận sự phong phú của Việt Tộc. Còn sùng bái thì dễ dẫn đến nghi thức tâm linh và xem đây là ngày tưởng nhớ, tưởng niệm một ông Tàu nào đó, cả hai hành vi này khác xa với việc vui chơi ngày mùa và diệt sâu bọ, đón chào luồng khí dương của năm để làm ăn.
Theo ông phán đoán, mọi câu chuyện tưởng như là dị bản về ngày Mồng Năm Tháng Năm trong dân gian mới nghe tưởng như là qui luật dị bản của văn hóa dân gian nhưng thực chất là có chủ ý của những nước có ý đồ bành trướng văn hóa để tiếp tục bành trướng những lĩnh vực khác. Và cần có một sự giải thích cũng như phổ biến sâu rộng về ngày Mồng Năm Tháng Năm của người Việt để tránh ngộ nhận tập thể.
Ngày Mồng Năm tháng Năm của người Việt năm nay khác xa mọi năm, bởi ở một số nơi, người dân quyết tâm bài trừ ngày này để phản đối Trung Quốc xâm chiếm biển Đông. Nhưng cũng có một số nơi tổ chức tương niệm Khuất Nguyên như một sự “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
(ST)

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Người Buôn Gió, từ giang hồ đến cải cách xã hội

Hà Giang thực hiện

Blogger Người Buôn Gió với phóng viên Hà Giang


"Thật ra khi tôi đi đâm chém thì chỉ là dân giang hồ với nhau, chứ tôi chẳng bao giờ đi tìm một người hiền lành nào tôi uy hiếp người ta để tôi kiếm tiền, mà toàn là dân giang hồ mâu thuẫn vì chia chác các thứ hay là nợ nần nhau. Bây giờ đến một người bác sĩ mà người ta cũng như thế thì tôi không hiểu cái xã hội này bây giờ nó ra thế nào. Nghĩ thêm thì tôi thấy không riêng chỉ bác sĩ, mà thầy giáo rồi công an cũng như thế, cả xã hội nó như thế." 

Người quan tâm đến tình hình đất nước có lẽ ai cũng quen thuộc với tên gọi blogger Người Buôn Gió. Người Buôn Gió tên thật là Bùi Thanh Hiếu, tác giả nhiều loạt bài, trong đó có “Ðại Vệ Chí Dị,” “Thư Viết Cho Con Trai”... với lối viết giản dị, dí dỏm, và sâu sắc. Blogger Người Buôn Gió là ai? Ðiều gì khiến ông trở thành người dùng ngòi bút làm phương tiện cải cách xã hội?

Hiện đang tham dự chương trình học bổng nghệ thuật của thành phố Weimar, Ðức Quốc, Blogger Người Buôn Gió hé lộ với phóng viên Hà Giang vài nét chính về con người và cuộc đời mình, trong buổi chuyện trò sau đây, tại tòa soạn nhật báo Người Việt.

Hà Giang (NV): Chào blogger Người Buôn Gió, đọc văn thì người đọc cũng có thể đoán ra con người của tác giả Người Buôn Gió, tuy nhiên nhiều người vẫn muốn nghe chính tác giả nói về mình, anh có thể cho độc giả của Người Việt biết blogger Người Buôn Gió là ai, và tại sao lại đi... buôn gió?
Blogger Người Buôn Gió: Thực sự, tôi chỉ như bao thanh niên ở Việt Nam ở trong những khu phố mà người ta gọi là khu phố bụi đời, nơi chứa nhiều thành phần giang hồ, xã hội đen. Cuộc sống của tôi cũng có lúc sống bằng nghề đâm thuê chém mướn, đòi nợ thuê, cũng có lúc cờ bạc, thậm chí là trộm cắp. Mọi người có thể hình dung là cuộc sống ấy nó khó hiểu nhưng mà tôi sinh ra ở cái khu phố như thế và tất cả mọi người đều làm những việc như thế thì tôi cũng làm theo, tôi không tiếp xúc được với xã hội bên ngoài, với xã hội văn minh và lớp người trí thức, mà tôi chỉ biết sống ở trong đấy thôi, và tôi trở thành một người cũng “xuất sắc” trong cái đám lưu manh ấy.

NV: Anh nói đến một khu phố bụi đời với những chàng trai sống lăn lóc, vậy khu phố đó là ở đâu?

Blogger Người Buôn Gió: Nơi tôi sinh ra nó là một cái ngõ nhỏ tên là Phát Lộc, ngoài Bắc, nó nằm ở chợ Ðồng Xuân-Bắc Qua, một nơi chứa chấp nhiều giới giang hồ hảo hán, dân số khoảng vài nghìn người. 

NV: Blogger Người Buôn Gió bao nhiêu tuổi rồi?

Blogger Người Buôn Gió: Vâng, tôi sinh năm 1972.

NV: Tới một lúc nào thì con người giang hồ lăn lóc bụi đời đó quyết định thôi giang hồ và bắt đầu viết lách, và điều gì, biến cố gì đã thôi thúc Người Buôn Gió phải cầm bút?

Blogger Người Buôn Gió: Khi tôi lấy vợ thì tôi vẫn làm công việc cầm đồ, cá độ bóng đá, tiêu thụ của gian, nói chung thì những cái việc ấy nó liên hệ với nhau. Sau đấy năm 2005 thì vợ tôi sinh con. Khi vợ tôi chuyển dạ sinh thì tôi đưa vợ tôi vào bệnh viện. Khi vào bệnh viện, các bác sĩ người ta bảo đưa tiền hối lộ thì người ta sẽ chăn sóc vợ con tôi. Lúc tôi đưa tiền cho người ta thì tôi thấy đó là lẽ tất nhiên, cả một cái xã hội toàn dùng tiền hối lộ, ở đâu cũng phải hối lộ thì hối lộ nó thành thói quen thôi. Nhưng nó xảy ra trường hợp là vợ tôi khó đẻ, và khó đẻ thì phải chuyển qua phòng mổ. Nhưng phòng đỡ đẻ thì người ta muốn lấy tiền hối lộ, nên họ giữ vợ tôi ở đấy. Vì thế sau ba tiếng đồng hồ vỡ ối, con tôi chưa được sinh ra, họ đợi đến hết giờ ca trực ấy, khi đổi qua ca trực khác thì mới chuyển, vì như thế thì ca trực khác mới được tiền (hối lộ). Khi họ chuyển vợ con tôi qua phòng mổ thì con tôi tím ngắt và tái mét. Họ nói con tôi bị bệnh tim. Nhưng nhiều người bảo nếu bệnh tim thì khám thai phải biết rồi, hoặc gia đình có tiền sử bệnh tim, mà gia đình tôi không ai có bệnh tim, còn con tôi trong quá trình khám thai thì không có vấn đề gì. Ðây là cháu bé trong ba tiếng đồng hồ đó nó bị sặc nước ối, vì nước ối vỡ ra rồi, nó uống vào.

Lúc ấy họ bảo, bây giờ muốn chữa thì phải tốn tiền, thế là tôi lại phải đưa tiền cho họ, nói tóm lại hối lộ rất là nhiều, từ y tá đến bác sĩ, ai cũng nói đến tiền. Họ hỏi thì tôi cứ đưa tiền ra, không thiết tha gì khác. Con tôi cuối cùng khỏe mạnh được về nhà. Khi về nhà được khoảng hai tháng thì một hôm tôi nhìn con tôi đang nằm, nó mủm mỉm, nó cười. Tôi nhìn, tôi mới nhớ lại chuyện hôm nó sinh ra, tôi mới chợt nhận ra rằng tôi từng cầm dao tôi đi chém người để tôi lấy tiền, thì tôi hình dung việc của tôi với việc ông bác sĩ ông ấy cầm dao mổ, tôi bàng hoàng nhận ra là có khi họ cũng giống mình.

Khi tôi nhận ra một cái điều như thế, thì tôi tự hỏi tại sao xã hội nó lại như thế. Tôi nhận tôi là một thằng lưu manh giang hồ, tôi đâm thuê chém mướn, tôi kiếm tiền... mà hình ảnh của người bác sĩ ở trong tôi ấy, thì tôi vẫn nghĩ những người ấy gọi là lương y như từ mẫu, không quản ngại điều gì để giúp mình, mà bây giờ người ta cũng cầm dao người ta kiếm tiền, và người ta cũng có thể bỏ mặc người khác chết để người ta kiếm tiền. Tôi thấy sự tàn nhẫn của họ có khi còn xuất sắc hơn tôi.

Thật ra khi tôi đi đâm chém thì chỉ là dân giang hồ với nhau, chứ tôi chẳng bao giờ đi tìm một người hiền lành nào tôi uy hiếp người ta để tôi kiếm tiền, mà toàn là dân giang hồ mâu thuẫn vì chia chác các thứ hay là nợ nần nhau. Bây giờ đến một người bác sĩ mà người ta cũng như thế thì tôi không hiểu cái xã hội này bây giờ nó ra thế nào. Nghĩ thêm thì tôi thấy không riêng chỉ bác sĩ, mà thầy giáo rồi công an cũng như thế, cả xã hội nó như thế.

Tôi nghĩ bây giờ mình sinh con mình ra rồi, và xã hội nó như thế này, để cho con mình nó tồn tại, thì mình dạy cho con mình cái gì? Mình lại phải dạy cho con mình biết cách hối lộ, biết cách luồn lọt, biết cách kiếm chác lưu manh thì tôi thấy mình sinh ra một người con, nuôi cho lớn mà phải dạy nó những điều ấy, thì nói thật lòng, thà không sinh nó ra.

Lúc đó tôi mới viết bài đầu tiên là bài ”Thư viết cho con trai.” Tôi viết một chuyện châm biếm là trong xã hội như thế này, khi con lớn lên đi học mẫu giáo, đi ra ngoài con phải cảnh giác là luôn cầm tiền trong người, bố sẽ đặt tên con là Bùi Minh Huấn, tức là con có được lời giáo huấn sáng suốt.
Bài viết đó có nhiều người đọc và khen. Thật ra thì cũng chẳng phải là người ta khen. Người thì khóc, người thì cười, tức là nó mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc. Tôi thấy là mình có thể có một cách cải cách cái xã hội này qua ngòi bút của mình. Nghĩ thế, tôi bắt đầu chú ý viết.

NV: Buôn Gió có nghĩa là gì, và từ đâu lại có cái tên Người Buôn Gió?

Blogger Người Buôn Gió: Lúc đầu, khi mới viết, tôi chỉ lấy tên thật là Bùi Minh Hiếu thôi. Sau đó tôi nghĩ mình không phải là muốn truyền bá tư tưởng, mà chỉ muốn nhân rộng suy nghĩ của một người cha, muốn những điều tốt cho con mình, cho thế hệ sau, nhân rộng nó đi khắp nơi, thì tôi chọn cái tên Người Buôn Gió, tức là tôi mong muốn cái tình cảm của một người cha, trách nhiệm với người con, với xã hội, được nhân rộng, tôi chọn cái tên ấy.

NV: Những nhận thức về xã hội chung quanh của blogger Người Buôn Gió có phải đến lúc có con, lo cho con rồi mới có, hay là những điều đã tiềm ẩn trong anh lâu rồi?

Blogger Người Buôn Gió: Nhận thức thì vẫn luôn luôn có chứ, nhưng nó không khiến được mình thay đổi, vì như nhiều người Việt Nam mình, khi họ nhìn những sự trái ngang đó, thì họ coi đó là một điều bình thường và họ tìm một cách nào đó, hối lộ, luồn lách, móc ngoặc thế nào đó để mà vượt qua. Thì tôi cũng là một người như thế. Nếu mà tôi không có cậu con trai của tôi, thì tôi vẫn là một người như thế thôi. Nhưng khi đã có người con rồi thì suy nghĩ của tôi lúc đó không phải là về tôi nữa mà là về thế hệ của con tôi, và chính vì thế mà tôi viết. Nói tóm lại, đánh giá về xã hội như thế thì nó có sẵn trong người rồi, nhưng mình không muốn làm cái gì để thay đổi nó, mình chấp nhận nó là đương nhiên như thế. Nhưng khi mình đặt vấn đề con mình nó cũng phải chấp nhận như thế là một chuyện đương nhiên thì đó là một điều đau lòng, và tôi không muốn như thế, nên tôi phải viết.

NV: Việc viết lách trong xã hội Việt Nam đã mang đến cho blogger Người Buôn Gió nhiều khó khăn trong cuộc sống, vậy người phối ngẫu của anh có ý kiến gì không?

Blogger Người Buôn Gió: Ðầu tiên thì vợ tôi phàn nàn rất nhiều. Gia đình bên vợ tôi, ông của vợ tôi là tướng trong quân đội (Bắc Việt), gia đình bên vợ tôi cũng thuộc thành phần trí thức, ông bà đều là lão thành cách mạng. Nhưng khi tôi bị bắt năm 2009 thì lúc đấy gia đình vợ tôi mới biết chuyện. Họ tìm hiểu xem tại sao tôi bị bắt, họ đọc những bài của tôi, họ nói “ôi mẹ cái thằng này nó viết hay đấy, nó viết đúng quá.” Lúc ấy thì vợ tôi thất vọng, tưởng là mọi người biết anh ấy làm như thế thì khuyên anh ấy, chứ bây giờ bên nội bên ngoại cùng khen như thế này, thì vợ tôi cũng vui vẻ.

NV: Sau khi những bài viết của blogger Người Buôn Gió được gia đình bên vợ đọc, thành phần giao tiếp của anh có thay đổi không? Có tạo được ảnh hưởng gì không?

Blogger Người Buôn Gió: Sau khi mọi người trong họ hàng đọc thì họ thành độc giả của tôi. Họ thường xuyên đọc. Gọi cho bạn bè. Thậm chí, tôi có ông chú với bà cô lúc nào cũng đi khoe “tôi là ông chú, tôi là cô cái thằng Buôn Gió.”

NV: Con trai của blogger Người Buôn Gió bây giờ cũng chín tuổi rồi, và anh đã viết cho con rất nhiều bức thư, thế cha con anh có bao giờ ngồi và nói với nhau những câu chuyện tương tự như nội dung của những bức thư đó không?

Blogger Người Buôn Gió: Cháu cũng đọc những bài tôi viết. Có những lúc đi học về cháu chưa phải làm bài, cháu rất là khệnh khạng, ngồi vào máy tính, xong cháu Google xem hôm nay Người Buôn Gió viết cái gì, rồi cháu ngồi đọc. Chúng tôi không thảo luận về những thư tôi viết cho cháu, chỉ có một cái truyện tôi viết về tuổi thơ của tôi, thì cháu có hỏi lúc ấy bố bé, bố như thế nào thế nào, thì tôi kể cho cháu nghe. Tôi tâm sự với cháu, chẳng hạn như bố thương bà nội thì bố nấu cơm, bố làm các việc giúp bà, hay là thương ông nội thì tôi làm gì.

NV: Trở lại với cái cái chữ Buôn Gió, chắc hẳn hai chữ này với anh phải có một ý nghĩa gì đó sâu sắc lắm?

Blogger Người Buôn Gió: Chúng ta người nào cũng có một ước mơ, thí dụ ước mơ cải cách xã hội, ước mơ xã hội được dân chủ, cái tên Buôn Gió nó thể hiện một giấc mơ, một ước mơ mà tôi đang trên đường thực hiện. Tôi cũng chỉ mong lúc nào đất nước mình tràn ngập gió thì tôi không phải đi buôn nữa, thì đó là một điều hạnh phúc. 

NV: Cảm ơn blogger Người Buôn Gió đã dành thời gian cho chúng tôi.

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Thư giản: Cười nghiêng ngả với Tập Làm Văn bá đạo của học sinh lớp 2


hocsinh

Mới làm quen với bài tập làm văn miêu tả, những bài văn của học sinh lớp 2 khiến cho nhiều người không nhịn nổi cười.

Đề: Tả ông nội
Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?

Đề: Miêu tả về bố
Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải.

Đề: Tả cây chuối
Nhà em có cây chuối rất to, chiều nào em cũng leo lên cây chuối ngồi hóng mát. Khi em leo lên, cành chuối rung rinh.

Đề: Tả người thầy em yêu quý nhất
Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản.

Đề: Tả anh bộ đội
Anh bộ đội cao khoảng 1,20 m, súng AK dài 1m rưỡi.

Đề: Tả buổi chào cờ đầu tuần
Sáng thứ hai tuần nào cũng vậy, trường em lại tổ chức chào cờ. Đầu tiên là thầy hiệu phó phụ trách lao động lên mắng mỏ một tí. Sau đó đến lượt thầy hiệu trưởng lên mắng. Khi thầy hiệu trưởng mắng, cái cục ở cổ thầy cứ chạy đi, chạy lại.

Đề: Tả cây bàng
Ở cạnh nhà em cách một quán phở có một cây bàng. Cây bàng đã sống trên 10 năm nên nó đã già và nó đã biến thành cây đa.

Đề: Em hãy tả một con vật mà em yêu thích nhất
Nhà em có một con chim chích bông, nó nhỏ và xinh, lông nó màu vàng óng, em thấy nó không ngừng nhảy và mổ mồi. Em rất yêu con gà của ông em.

Đề: Tả con trâu (của một học sinh thành phố)
Nhà em có nuôi một con trâu. Nó đáng yêu lắm. Hàng ngày, mẹ xích nó ở góc hiên. Trên cổ nó có đeo một cái nơ màu hồng thật xinh xắn. Nó ăn rất ít cơm. Nó có khuôn mặt trái xoan thanh tú.

Đề: Tả một buổi học
Tùng tùng tùng, tiếng trống vang lên báo hiệu đã đến giờ vào lớp. Không còn cảnh nô nghịch, chạy nhảy nhốn nháo nữa. Các bạn, ai ai vào vị trí của người đó. Sách vở để ngay ngắn trên bàn. Cô giáo bước vào lớp. Học sinh đứng dậy chào cô. Cô mặc chiếc áo dài hoa rất đẹp. Tóc cô thẳng mượt thả đến ngang lưng. Cô đặt chiếc cặp đen lên bàn và cất tiếng dịu dàng: “Hôm nay có ai đóng tiền không?”

Đề: Tả con lợn nhà em
Con lợn nhà em đầu tròn như quả bóng da, người nó hình cái hộp các-tông còn cái đuôi thì giống cái chân chống xe máy!

Đề: Tả đêm giao thừa
Em bước ra sân để chuẩn bị thắp hương giao thừa. ánh trăng tròn vằng vặc soi rõ khu tập thể, làm những chiếc lá sáng lên loang loáng…

Đề: Tả con gà trống nhà em
Chú trống choai nhà em lớn nhanh như thổi, càng lớn chú càng giống gà mái…

THEO PNTD